Tài nguyên dạy học

Mấy giờ rồi nhỉ

Hôm nay ngày mấy?

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang Web này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Ban_tinh_ca_dau_tien__YouTube.flv You_are_the_apple_of_my_eye.flv 94hanhdttchiatay.jpg Youtube__cung_chuc_tan_xuan__happy_new_year.swf VinhBietMuaHe.mp3 0.Untitled-22.jpg Bai_ca_TruongTHPT_Le_Loi4.mp3 MeHienYeuDau.mp3 BanglangtimMyTam.mp3 ChristmasDontBeLateLuongBichHuu.mp3 NHAT_BAN_HINH_ANH.flv Nav_logo14.png Einstein.jpg Take_me_to_your_heartMLTR.mp3 0.Clip_-_Clip_If_tomorrow_never_come_-_Xem_clip_tai_Video_Zing.flv 0.When_You_Say_Nothing_At_All_-_Ronan_Keating.mp3 0.If-Tomorrow-Never-Comes.mp3 0.Neo_dau_ben_que.mp3 0.Giong_ho_thuong_nho.swf

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Thư viện trực tuyến

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử Trường THPT Bùi Dục Tài.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Tiếng cười trong văn NamCao

    Namcao1.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Nam Linh (trang riêng)
    Ngày gửi: 18h:38' 14-02-2009
    Dung lượng: 54.1 KB
    Số lượt tải: 12
    Mô tả:
    Nguồn : http://vn.myblog.yahoo.com/letu-trinh/article?mid=316


       Mỗi lần đọc Nam Cao, tôi lại thích thú vì phát hiện thêm một điều mới, cũng giống như đọc Tam quốc vậy. Ai cũng tiếc vì Nam Cao mất quá sớm (ông mất năm 1951 ở tuổi 34) vào lúc tài năng đang độ chín (Tô Hoài).
       Riêng tôi lại có suy nghĩ khác.
       Nếu Nam Cao còn sống thì văn nghiệp sau này của ông thế nào?
       Từ 1945 đến 1951 ông viết rất ít (sống đã rồi viết): Mò sâm banh thì không độc, Đôi mắt (1948) thật xuất sắc, Nhật kí ở rừng (1948), kí sự  Chuyện biên giới (1950) cũng bình thường, 6 năm trời chỉ có vậy. Tôi cho rằng, sau 45, Nam Cao đã qua đỉnh. Nếu tiếp tục thì 2 mảng đề tài ruột của cụ là người nông dân và trí thức nghèo sẽ ít đất dụng võ. Có thể cụ lại bới Đống rác cũ như Nguyễn Công Hoan, cũng có thể cụ theo Nhân văn Giai phẩm, buồn nhất là cụ viết những thứ kiểu như Ngói mới, Anh chủ nhiệm, Bài ca vỡ đất... may quá, tất cả đều không xảy ra vì... cụ đã mất.
       Bởi vậy cho đến hôm nay, lòng ngưỡng mộ Nam Cao vẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu mới đọc cụ.
       Bài sau đây tôi viết đầu những năm 90, nay đọc lại vừa ngượng vì văn phong của nó, lại vừa tự sướng vì lòng đam mê đến hồn nhiên của mình. Nó vốn là một đề tài hàng năm của giáo viên, có lẽ bây giờ, nếu được may mắn thì nó đang sống chung với lũ mối mọt ở đâu đó, và được nằm chung với bao thứ tâm huyết khác của những giáo viên yêu nghề. Chắc vẫn chưa ai đọc nó, ngoài tôi (!)
       Những ai mến mộ Nam Cao hãy cùng tôi chia sẻ với bài viết này.

    VÀI SUY NGẪM VỀ TIẾNG CƯỜI TRONG   SÁNG TÁC CỦA NAM CAO  TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG  TÁM
       
       
            1. Nói đến chất  Hài  trong sáng tác, độc giả sẽ nghĩ ngay đến hai nhà văn hiện đại: Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng. Nguyễn Công Hoan với gần 200 truyện ngắn đặc sắc đã đưa ông đến đài vinh quang của bậc thầy truyện ngắn nước nhà. Vũ Trọng Phụng thì chỉ cần nhắc đến “ Số Đỏ “ cũng đủ “làm vinh dự cho bất kỳ nền văn học nào (Nguyễn Khải). Cả hai ông đều là “Trưởng tràng” của làng trào phúng. Còn Nam Cao ? Từ trước tới nay chưa ai coi Nam Cao là nhà văn trào phúng - điều đó rõ ràng, dẫu người ta vẫn nhận ra chất hài hước độc đáo của ông. Mãi đến sau năm 1954 khi thu nhập một cách tương đối đầy đủ về tác phẩm của ông , người ta mới nhận ra rằng : Đó là một nhà văn lớn, một người có ý thức trách nhiệm về ngòi bút của mình. Từ đó Nam Cao mới được đặt vào vị trí xứng đáng trên văn đàn văn học hiện đại. Nhiều công trình lớn đã nghiên cứu về ông. Tuy nhiên những độc giả yêu thích Nam Cao vẫn chưa mãn nguyện. Nghiên cứu về văn nghiệp của Nam Cao cũng như bình Tam Quốc, nó không bao giờ hết , không bao giờ chán. Có lẽ cần có thêm những nhà “ Nam Cao học” để nói về chân dung các nhân vật của Nam Cao, về hình ảnh người phụ nữ trong tác phẩm của ông... Rồi những thủ pháp nghệ thuật, nhất là những thủ pháp hài - một yếu tố góp phần không nhỏ trong việc đưa độc giả đến với thế giới hiện thực trong tác phẩm của ông.
        2. Là nhà văn chân chính, nên nhắc đến Nam Cao người ta hay nhắc đến “ Trăng sáng”, “Đời thừa” những tuyên ngôn trong sáng tác của ông, nhưng cũng hơn một lần ông đã nêu lên tuyên ngôn về tiếng cười của mình. Trong “ Nụ cười”  ông đã để cho Hoạt phát biểu: “ Lặng lẽ mà chịu những cái khó chịu hàng ngày, lặng lẽ mà đau đớn khi nỗi đau không tránh được, lấy nụ cười mà che đậy cái buồn riêng của mình để người chung quanh khỏi buồn lây... thì cũng là can đảm, mà là thứ can đảm ít người có được”. Nhà văn của những người cùng khổ, của những nỗi khốn khổ sống trong cảnh” tài cao phận thấp” đã biết cười nỗi đau khổ của mình mà vượt lên: “ Gặp những cái khó chịu, những điều trái ý , những nỗi đau khổ ở đời ta phải tìm cách chống lại, nhưng khi chống lại cũng không xong thì chỉ còn một cách mỉm cười mà nhận lấy (Nụ cười).
        Rõ ràng Nam Cao ý thức rất rõ về vai trò ý nghĩa của tiếng cười trong cuộc sống, nó như một kiểu ứng xử khéo léo và cần thiết, và vai trò vị trí của yếu tố ấy cũng vì thê tự nhiên đi vào tác phẩm của ông như một thủ pháp nghệ thuật không kém phần quan trọng để cùng những yếu tố khác (có thể cơ bản hơn, chủ yếu hơn và với mật độ dày hơn) mở ra thế giới hiện thực một cách độc đáo, sâu sắc và đầy ám ảnh.
        Bài viết nhỏ này chỉ là một vài cảm nhận rất chủ quan, rất cá nhân nhưng cũng rất tâm huyết (Những điều thu nhận đựơc trong quá trình đọc Nam Cao, học Nam Cao và cả dạy về Nam Cao) để bày tỏ sự ngưỡng mộ cũng như mong có được một đóng góp rất nhỏ trong việc khám phá, cảm nhận về một tài năng văn học của nước nhà trên phương diện: “ Tiếng cười qua sáng tác của Nam Cao”.

                  
               1. Các hình thái tiếng cười từ Nguyễn Công  Hoan, Vũ Trọng Phụng đến Nam Cao.
        Ơ trên, ta đã có nhịp nhắc đến hai cao thủ của làng trào phúng: Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng. Thủ pháp chính của Nguyễn Công Hoan là ở bàn tay một nhà kiến trúc truyện ngắn “Truyện ngắn của tôi là một cái lờ, nó thường làm độc giả đột ngột” (Đời viết văn của tôi). Tiếng cười trong truyện của ông thường giống ở kho tàng tiếu lâm Việt Nam. Ít người đoán trước, nó được chuẩn bị từ nhiều hướng, độc giả luôn khúc khích cười với câu chữ thần tình, đầy táo bạo khi bước vào thế giới cười của ông rồi đột ngột chui tọt vào cái bẫy giăng sẵn rất tinh vi và khéo léo thường là câu kết ở cuối chuyện. Tiếng cười bật lên : khoái trá, hả hê, rũ rượi và chảy nước mắt. Vũ Trọng Phụng có khác hơn: cái cười đốp chát, nó lật tẩy bản chất một lũ người hợm mình, điểu giả, dối trá... để dâng cho độc giả những tiếng cười đắc ý.
        Nam Cao có những tiếng cười khác, nó thường đến đột ngột và lai rai trong mạch truyện , thường làm hé ra những nụ cười không thành tiếng của độc giả. Dĩ nhiên, tiếng cười trong sáng tác của Nam Cao được phát ra từ nhiều tình huống, trước nhiều đối tượng, với nhiều cung bậc. Bài viết này chỉ dừng lại nếu một vài cảm nhận về tiếng cười qua sáng tác của Nam Cao với ý nghĩa như là một phương tiện, một thủ pháp nghệ thuật để miêu tả, để phản ánh hiện thực.
        2. Các thủ pháp tạo tiếng cười trong tác phẩm của Nam Cao.
        Tiếng cười trong sáng tác của Nam Cao được xây dựng bằng một số thủ pháp và tạo ra những sắc thái khác nhau. Xin đựoc liệt ra một số thủ pháp chính.
    a)    Để “nội tâm nhân vật lý sự”
    Là nhà văn hiện thực, xuất sắc ở giai đoạn cuối (1940 - 1945), hai mảng đề tài thường trực của Nam Cao là : Người nông dân nghèo và người tri thức tiểu tư sản. Thủ pháp này, Nam Cao thường dành cho đối tượng thứ nhất. Nông thôn trong tác phẩm của Nam Cao là nông thôn Việt Nam vốn triền miên trong bần cùng, đang tiến dần đến thảm hoạ 1945. Cái đói kéo dài lê thê qua những trang tác phẩm. Những số phận, những người nông dân bần cùng đang tha hoá...  Nam Cao đã tiếng báo động cho toàn xã hội về những con người bại liệt tinh thần ở nông thôn, họ đang tha hoá, đang biến dạng đến thảm hại, đang mất dần nhân cách, những toan tính thú vật nổi lên : họ xông vào để ăn, giành nhau để ăn vì họ rất... cần được ăn ! Với dụng ý ấy, trước hiện thực ấy, vũ khí “ tiếng cười” thật đắc địa vô cùng . Đây là lý sự của một “thằng người” mà trước mắt “lập loè hai sắc: sắc vàng bóng của một cái mông chó nhầy nhẫy mỡ và sắc xanh nhạt của một chai Văn Điển đầy ăm ắp ”..., trong khi vợ đói, con đói, túi không có tiền, lại mang nợ nhiều lần: “Việc gì phải do dự nữa, thịt chó mụ Tam để bán chứ không phải để cho ôi thối, còn hắn muốn ăn thì phải mua, không có tiền thì mua chịu, trời sinh ra thế...thôi một lần nữa đã sao...” (Trẻ con không được ăn thịt chó). Còn đây là một kiểu lập luận nữa: ”...tội gì mà chẳng uống, sẻn lắm cũng chết ... này này cái lúc răng còn sung sức nhai cái xương, cái sụn kêu rau ráu ngon biết mấy, đến lúc răng rụng... trông thấy đĩa sụn chỉ ngồi khóc, đã chẳng thằng nào thương, chứng nó còn cười vào mặt cho...”. Lúc ấy, bầy con ở nhà nheo nhóc đói, vợ đi chợ bán mười ba nải chuối được một đồng hai xu chỉ dám mua hai xu muối, mang về đồng bạc cất , và... hắn cầm đồng bạc cho vào túi - rồi hắn đi... để rồi lẩm nhẩm tính : để trả nợ, để nợ lại và ... uống tiếp. Người đọc phải bật ra, gằn lên tiếng cười, tức tối vì kiểu “ lý sự cùn”, kiểu liều lĩnh vô tội vạ ấy.
        Những hắn, y, thị, mụ đầy rẫy trong truyện của Nam Cao, những nhân vật không tên và có tên méo mó, xộc xệch, vật vờ như những hình nhân , đầu óc lởn vởn những miếng ăn, miếng uống, đầy bản năng của thú vật.
        Tác phẩm “ Chí Phèo” có thể coi là điễn hình nhất của phong cách Nam Cao. Mới vào tác phẩm, người đọc bị cuốn hút theo cái giọng lảm nhảm của một thằng say rượu đang trộn lẩn với giọng người dẫn chuyện như đang lôi nhân vật ra để ” trình làng” : “... Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có cả riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ : “Chắc nó chừa mình ra !”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật!...Thế có phí rượu không...” ( Chí Phèo). Người làng Vũ Đại, người đọc, tất cả chúng ta sẽ phải khúc khích cười kiểu ” đối thoại một mình “ ấy của Chí, nhưng cười rồi ta lại thấy ái ngại cho hắn bởi hắn muốn giao tiếp với đồng loại bằng một thứ ngôn ngữ khá thô thiển: “ tiếng chửi”  nhưng cũng không xong. Hắn cô đơn, hắn chơi vơi...
        Còn đây, có lẽ không ai cãi nổi cái lý sự kiểu Chí Phèo: “Nhịn uống để làm gì, có giàu, có sang chết cũng không ai gọi là cụ lớn mả... Chỉ có cái mả, cái mả đất. Ai chết cũng thành cái mả, say sưa chết cũng thành cái mả... lo gì“. Chắc chắn, chúng ta chỉ có thể đáp lại bằng tiếng cười, tiếng cười ngao ngán.
            Vì sao vậy? Vì sao ở mảng đề tài này, ở đối tượng là người nông dân khốn cùng này, Nam Cao hay tạo ra tiếng cười từ kiểu “nội tâm nhân vật lý sự “? Phải chăng, hoàn cảnh khốn cùng, con  người khốn cùng mà nhu cầu ( dẫu tầm thường là ăn, là uống ... ) thì lại không cùng đã đẩy những con người đang tha hoá đi vào ngõ cụt mà điểm tựa còn lại cho họ là: biện bạch, biện bác một cách “cùn ”. Tiếng cười ở đây bật ra không thành tiếng bởi cái hài được chất chặt trong cái lý sự của nội tâm nhân vật. Không cần bình, người ta cũng hiểu được dụng ý của Nam Cao: Men theo bước đi khệnh khạng và kiểu lập luận của nhân vật, người đọc sẽ tiến dần đến với một nông thôn Việt Nam của Nam Cao - một nông thôn khốn cùng, tiêu điều với sự cựa quậy của chừng đó con người, chừng đó kiểu người, với sự vùng vẫy và liều lĩnh rất bản năng của họ... giá trị hiện thực là ở chỗ đó, hiệu quả của tiếng cười cũng được tạo ra ở đó.
        Một trong những biểu hiện  nổi bật của giọng văn Nam Cao là chất triết lý. Việc tạo tiếng cười bằng thủ pháp để nhân vật độc thoại, lý sự là một kiểu “ triết lý hài “ triết lý của kẻ cùng nên... liều. Nó hỗ trợ, nó bổ sung để giọng điệu triết lý của Nam Cao vì thế phong phú hơn, đa dạng hơn, đỡ khô khan hơn.
    b)    Phanh phui tâm lý “ nhỏ nhen”
    Thủ pháp này, Nam Cao thường dành cho nhân vật tiểu tư sản, cũng là cách nhà văn độc thoại nội tâm nhưng không phải là lý sự cùn như trên. Ơ đây Nam Cao muốn mổ  xẻ căn bệnh của ” kẻ sĩ ” những người luôn bị dày vò bởi thiếu thốn, nghèo túng, cái đói hàng ngày treo lơ lửng, họ lại cố làm ra vẻ trang nghiêm, đạo mạo “ mặt ngay đơ, mắt nhìn thẳng đằng trước “ ( Sống mòn).
        Nam Cao đã lần lượt vạch ra từng đường tơ kẻ tóc của tầng lớp này. Đây là lát cắt một tầng lớp trí thức : “ ...Tú suốt ngày nghiền ngẫm cái dự định mở một trường tư vốn có đến vài ba vạn bạc để rồi ... dẫn thân đến nhà giàu kèm mấy đứa trẻ học thêm kiếm mỗi tháng vài chục bạc trả tiền ăn, tiền giặt. Du còn đang tìm chỗ bán lấy bạc trăm những tiểu thuyết đang còn mang ở trong đầu. Hồ sẽ mở một nhà xuất bản thật to, hiện nay chàng hãy cặm cụi viết suốt những truyện ngắn, truyện dài bán với giá rẻ mạt cho những nhà xuất bản... buôn văn “ ( Nhỏ nhen). Và Hộ ( Đời Thừa) một nhà văn có lương tâm , có hoài bão đã từng ôm ấp mộng viết một tác phẩm với giải Nô-ben nhưng rồi ngày ngày phải viết những bài báo, những trang văn nhạt phèo để người đọc quên ngay sau khi đọc. Thật là một bi hài kịch, tiếng cười nấc lên từ sự triệt tiêu của mơ mộng với đời thường. Với họ, những người tiểu tư sản ấy, giữa ước mơ, hoài bão và hiện thực còn cách nhau một khoảng quá xa. Nhiều lúc họ sống trong cảnh hão huyền mơ mộng nhưng lại phải luôn luôn đối mặt với một thực tai quá ư cơ cực. Họ rơi vào khốn đốn ...
        Hầu hết các nhân vật tiểu tư sản đều ít nhiều bóng dáng của Nam Cao. Nhà văn Nam Cao là một nhà văn rất thành khẩn, dũng cảm, sẵn sàng vạch ra những tật xấu trong tư tưởng, trong đời sống của mình, của giới mình -  những kẻ luôn bị “ áo cơm ghì sát đất ”. ta bắt gặp ở đây cái phong vị “ tự trào” của một bậc hàn nho xưa. Cười đó rồi khóc đó ... Nhưng nói cái thấp hèn không phải để thấp hèn “ khi đã công nhiên bênh vực những cái nhỏ nhen thì không thể nhỏ nhen như người khác được” (Nhỏ nhen). Phải chăng đó là quan điểm để tạo nên tiếng cười cho người đọc, với lớp nhân vật này - người đọc để xót xa, để chia sẻ và chờ đợi một cái gì đó khác đi ở họ vào khi khác. Có lẽ cũng với ý định đó cho nên ở đối tượng này, Nam Cao đã lần lượt “ trình làng” những gì thuộc về ” cố tật”, “ tâm lý nhỏ nhen”  của họ và của chính ông.
        “ Bệnh sĩ “ là một bệnh xã hội mà hơn 40 năm sau Nam Cao, Lưu Quang Vũ đã cho ra vở kịch này để mọi người phải tự “ vạch áo cho người xem lưng “ ngõ hầu tìm ra thuộc chữa. Thời đó, rất mạnh dạn, Nam Cao đã phanh phui tất cả những toan tính tầm thường của tầng lớp ông để bắt người ta “cười cái đáng ra phải khóc” ( A Muýtse). Hẳn người đọc không thể quên Điền - anh công chức nghèo khổ, ốm yếu, vợ dại, đứa con bệnh tật phải căn ke từng đồng của mình, đã lập luận như sau khi vợ cứ nheo nhéo đi giục Điền đi mua thuốc cho con:
    ” ... Nếu thuốc quả có công hiệu như người ta khoe khoang thì những người giàu là sống mãi thôi còn những người nghèo khổ sẽ chết hết không còn một mống ...”. Vì sao Điền phải lập luận như vậy ? Một lẽ rất đơn giản: anh không có tiền mua thuốc cho con và anh cũng không muốn đụng chạm đến sự thật ấy nên phải biện bác.
        Lăn vào cuộc sống nghèo túng “ phải bán dần cái sống để khỏi chết” người đọc bất giác mếu máo cười với lập luận của Hài “... chết mau nghĩa là chưa chết, nếu tôi không dạy thì chết ngay bởi không ai có thể sống mà không ăn..” ( Quên điều độ ).
        Thói “ sĩ diện hão” cũng là nét nổi bật trong tính cách tiểu tư sản. Kẻ sĩ diện hão thường dấu diếm cái nghèo hèn và phô trương cái giàu sang cao quý của mình. Thứ trong “ Sống mòn” là một ông giáo khổ trường tư  nghèo túng, “ không dám dọn nhà ban ngày vi sợ thiên hạ biết mình ít đồ đạc, ban đêm mới lẻn đi như một cô gái chữa hoang đi đẻ...”
         Sắc lạnh đến gân guốc khi mổ xẻ tâm lý tiểu tư sản, Nam Cao làm người đọc phải ngỡ ngàng vì sự thành thực của mình. Người đọc nhiều khi bất chợt phì cười vì cái giọng văn chơi chơi, thực thực của ông. Phải chăng đó cũng là cách “ lấp liếm ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra” ( Một bữa no).
        Trong vòng đời luẩn quẩn, suy nghĩ luẩn quẩn của cuộc đời vô nghĩa lý, cái suy tư “ tồn tại hay không tồn tại” của Hămlét dường như lúc nào cũng treo lơ lửng như một sự báo mộng ”...chưa làm gì cả, chết mà chưa sống là thường, chết ngay lúc đang sống mới nhục nhã” và khác hơn, chua chát hơn ”...trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói... nguyện vọng của tôi ấy là làm thế nào cho vợ có tiền đong gạo, mua nước mắm và mua ba xu thuốc chốc đầu của bà lang lùn về cho con” ( Những chuyện không muốn viết ). Tiếng cười ở đây có thể bục ra rồi tắc lại bởi chua chát, bởi thương tâm và bởi bất lực.
        Có thể nói rằng ở đề tài người trí thức tiểu tư sản, Nam Cao thẳng thắn phanh phui, mổ xẻ mọi trạng thái tâm lý, mọi suy tư, dự tính rất thật, rất chính xác và mổ xẻ cũng rất lạnh lùng. Ơ đề tài này, tiếng cười phát ra nơi độc giả thường là tiếng cười day dứt, ngậm ngùi. Nếu như thủ pháp (a) là cách nhà văn thu hút người đọc thâm nhập vào hiện thực nông thôn Việt Nam nghèo đói bần cùng thì ở thủ pháp này - thủ pháp mổ xẻ, phanh phui tâm lý nhỏ nhen là cách nhà văn giúp độc giả cảm nhận một cách thấm thía bi kịch đau đớn trong đời sống tinh thần của những con người “có chữ” và cũng đồng thời cũng “vạch áo”để cho thiên hạ xem những vết lở loét trên lưng của tầng lớp, của giới mình. Cũng là một kiểu phản ánh hiện thực khác ở một đối tượng khác.
    c)    Một số thủ pháp khác:
    Ngoài hai thủ pháp chính nêu trên, Nam Cao cũng đã dùng rất nhiều thủ pháp có tính chất truyền thống của dân tộc.
    -    Yếu tố gây cười dễ nhất là thủ pháp cường điệu: Nguyễn Công Hoan đã rất thành công với thủ pháp này khi miêu tả bà Tuấn và cô Thuý Liễu béo ( Cô giáo Minh ). Và không ai có thể quên được 1872 câu gắt “ Biết rồi, khổ lắm, nói mãi...” của cụ cố Hồng ( Số Đỏ ). Nam Cao cũng tận dụng thủ pháp này ở một bình diện khác vì một ý định khác. Đây là một cô con dâu: “ Thị chúa đời là hay ăn cắp và ăn vụng mà ăn vụng như thế nào ? Thị bốc trộm gạo sống cho vào túi để ăn dần, thị hớt cơm chó thật nhiều rồi bớt lại, giấu đi để ăn cơm với cả nhà rồi lại lấy ra ăn, thậm chí đến đổ cám cho lợn mà thị cũng ăn vụng... ở ngoài chuồng heo” ( Sao lại thế này)...
    -    Nhiều khi Nam Cao lại sử dụng lối đá móc, tạt ngang như những nhận xét vô thưởng vô phạt mà gây nhiều thú vị “ cãi nhau hai người mới đúng phép và mới thích, cũng như đánh quần vợt, như đấu kiếm, một người không thành cuộc...” Hay là: “ thằng này mới sinh ra đã có tướng nhà báo, hay kêu gào lắm...”
    -    Có khi Nam Cao dùng những câu văn cộc, ngắn, lạnh lùng hoặc ngủng ngoẵng để làm bật lên tiếng cười ... Dĩ nhiên với những thủ pháp khác nhau thì cung bậc và sắc thái tiếng cười cũng sẽ khác nhau.
    3. Một vài nhận xét:
    -    Hài hước là một truyền thống nghệ thuật trong giao tiếp, đặc biệt trong văn học, nó tạo nên tiếng cười bởi nhiều cung bậc khác nhau. Một điều không thể phủ nhận là chất hài làm tăng  sự hấp dẫn của từng tác phẩm. Nam Cao có ý thức về điều này nên rải rác trong tác phẩm ta thấy lượng tiếng cười được phân bố không phải là mỏng.
    -    Tiếng cười trong tác phẩm của Nam Cao về đặc thù, nó không đồng dạng với các tác giả trào phúng đã dẫn trong bài. Ta hầu như không gặp được tiếng cười sảng khoái, hả hê phá lên trong nhưng trang viết mà hầu hết là tiếng cười cay đắng, tủi nhục, xót xa, nghẹn ngào khi Nam Cao phanh phui bản thân mình, khi mổ xẻ những cái méo mó của người khác. Bởi hầu như nó phát ra từ những suy nghĩ, từ những nghiền ngẫm của một nhà văn luôn trăn trở tìm cho mình và cho nhân loại hướng tới một cái gì đó cao hơn, đẹp hơn trong cuộc sống và quả thực ông đã “cười cái đời trông thấy và khóc cái đời không trông thấy” ( Gôgôn). Đó là tiếng cười trong nước mắt trong một tâm hồn phẫn uất, yêu thương nhưng bế tắc.
    -    Không phải là một nhà văn trào phúng,  nhưng một trong những con đường đi vào hiện thực của Nam Cao là con đường hài hước. Đặc biệt là phong cách “tự trào”. Dùng tiếng cười, lấy tiếng cười để phơi trần những gì mọi người chưa nhìn thấy, chưa nhận thấy là một kiểu viết văn kiệm lời, sắc sảo và tài tình của Nam Cao - người đại diện tiêu biểu nhất của trào lưu hiện thực trong thời kỳ phát triển cuối cùng của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.


    -      Tiếp cận tác phẩm Nam Cao, đánh giá, phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm của ông, hẳn người đọc không thể quên ghi nhận vai trò của yếu tố hài, của tiếng cười trong tác phẩm. Bởi tiếng cười ấy (một kiểu tiếng cười rất đặc thù - rất Nam Cao) đã tạo sức hấp dẫn, cuốn hút đặc biệt với người đọc. Tiếng cười ấy tạo cho Nam Cao có màu sắc hơn, giọng văn triết lý của Nam Cao trở nên bớt khô khan hơn, nặng nề hơn : triết lý mà hài hước, hài hước mà triết lý thâm trầm.
    -    Lâu nay, chúng ta đã từng tiếp xúc với nhiều tác phẩm của  Nam Cao, đã nhiều năm, nhiều lần, trước học trò, chúng ta khám phá, phát hiện, phân tích, bình giảng về Nam Cao, về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm, về phong cách nghệ thuật, về giọng văn riêng của Nam Cao.... song thiết nghĩ, sẽ cần thiết và thấu đáo hơn nếu khi nhận xét về Nam Cao,  phân tích về tác phẩm của ông ở bậc PTTH ( Những tác phẩm “Chí Phèo”, “Đời Thừa”) chúng ta khéo léo đi sâu để tiếp cận, và chỉ ra vai trò của yếu tố hài hước như một thủ pháp nghệ thuật quan trọng, một con đường để tiếp cận hiện thực và cả trong việc đánh giá về giọng điệu, phong cách nghệ thuật của Nam Cao.
    Bài viết nhỏ của một tham vọng lớn chắc chắn không bao giờ có thể tiếp cận được những gì Nam Cao để lại cho chúng ta. Song cũng mong muốn được bày tỏ một vài suy ngẫm, một khám phá của bản thân về một tác gia lớn được chọn dạy trong chương trình Văn học phổ thông. 



    Trích dẫn (0)
    Tìm tag: bai viet

    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến